Mạch môn tốt cho sức khỏe

Cập nhật 06-10-2014, 2:08 pm

Mạch môn thường được trồng làm cảnh nhưng trong nhiều tài liệu y văn cổ có ghi chép công dụng bất ngờ của loài cây này. Hiện nay, mạch môn được dùng để bào chế sản phẩm Thăng Áp.

Vị thuốc mạch môn

Mạch môn có tên khoa học là Ophiopogon japonicus (L.f) Ker- Gawl., thuộc họ Hoàng tinh - Convallariaceae.

Vị thuốc mạch môn

Đây là loài cây thảo sống dai nhờ thân rễ ngắn. Lá mọc chụm ở đất, dẹp, xốp làm 2 dãy. Hoa mọc thành chùm nằm trên một cánh hoa trần dài 10-20cm, Hoa nhỏ màu lơ sáng, có cuống ngắn, xếp 1-3 cái một ở nách các lá bắc màu trắng. Bao hoa 6 mảnh, rời hay dính ở gốc. Nhị 6, bao phấn mở dọc. Bầu 3 ô, một vòi nhuỵ với 3 đầu nhuỵ. Quả mọng màu tím, chứa 1-2 hạt. Mùa hoa tháng 5-8, quả tháng 7-9. 

Mạch môn là cây của vùng Ðông Á, được trồng làm bờ các bồn hoa ở nơi mát và có bóng râm. Trồng bằng gốc có rễ vào mùa xuân. Thu hái rễ vào mùa thu. Ðào rễ củ già, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ nhỏ ở hai đầu củ. Củ nhỏ để nguyên, củ to có thể bổ đôi theo chiều dọc, rồi phơi hay sấy nhẹ đến khô. Khi dùng, ủ mềm, bỏ lõi.

Theo Đông y thì mạch môn vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh; có tác dụng dưỡng âm sinh tán, nhuận phế thanh hoả, trừ phiền nhiệt, chỉ khái huyết.

Mạch môn là cây thuốc thông dụng trong nhân dân làm thuốc bổ phổi, trị ho, ho lao, về chiều nóng âm ỉ, sốt cao, tâm phiền khát nước, lợi tiêu hoá, trị táo bón, lợi sữa cho đàn bà đẻ nuôi con. Ngoài ra, cây còn dùng làm thuốc cầm máu chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với vị rẻ quạt, lá hẹ, hoa đu đủ đực, húng chanh để trị ho.

Củ mạch môn tươi

Còn theo y học hiện đại thì mạch môn có chứa ophipogonin A, B, B', C, C', D, D'; ophiopogonone A, B, chất nhầy, đường glucose.

Bài thuốc hay từ mạch môn

Thanh nhiệt giải độc: Củ mạch môn sao khô, loại bỏ phần lõi, sau đó hãm uống nước như nước giải khát hàng ngày.

Chữa táo bón: Mạch môn 12g, sinh địa 12g, huyền sâm 8g. Tất cả sắc với 400ml nước, lấy 200ml; chia 3 lần/ ngày; uống trước bữa ăn từ 20-30 phút.

Trị lao phổi, viêm phế quản mạn tính, họng viêm mạn, có hội chứng phế kèm ho kéo dài, ho khan: Mạch môn 20g, bán hạ chế 6g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, ngạnh mễ 20g, đại táo 4 quả, sắc uống.

Trị bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, táo bón, hư nhiệt, phiền khát: Mạch môn 12g, ngọc trúc 20g, hà thủ ô 16g, đương qui 12g, thục địa 16g, sinh địa 12g, hoài sơn 16g, phục linh 8g, nữ trinh tử 8g, thiên hoa phấn 8g, bạch thược 8g, chích thảo 4g, sắc uống.

Vị thuốc mạch môn

Trị tim suy, có chứng hư thoát, ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh, huyết áp hạ: Mạch môn 16g, nhân sâm hoặc Đảng sâm (lượng gấp đôi) 8g, ngũ vị tử 6g, sắc uống. Trường hợp ra mồ hôi, bứt rứt khó chịu, dùng: Mạch môn 20g, hoàng kỳ 8g, đương qui 8g, ngũ vị tử 4g, chích thảo 4g, sắc uống.

Trị táo nhiệt hại phế, ho khan, đờm dính, họng đau: Mạch môn 5g, thạch cao 10g, tang diệp 12g, cam thảo 4g, mè đen 4g, A giao 3g, hạnh nhân 3g, tỳ bà diệp 4g sắc uống.

Trị phế và vị bị táo nhiệt, họng đau, họng khô, ho ít đờm: Thiên môn 1kg, mạch môn 1kg, nấu đặc thành cao, thêm mạch nha 0,5kg, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1-2 thìa canh, trước bữa ăn.

Trị nhiệt bệnh làm tổn thương phần âm, tâm phiền, khát, tinh hồng nhiệt, đơn độc phát ban, thần trí mê muội: Mạch môn 12g, huyền sâm 20g, tê giác 4g, sinh địa 24g, tinh tre 12g, đan sâm 16g, kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, hoàng liên 4g, sắc uống.

Thăng Áp

Thăng Áp được bào chế từ các thành phần thảo dược như: Nhân sâm (bột), A giao, mạch môn, cam thảo, trần bì, ngũ vị tử, sinh địa, chỉ xác, hoàng kỳ, quế, đại hồi 0,5 g.

Sản phẩm Thăng Áp

Thăng Áp dùng cho người huyết áp thấp, có tác dụng làm tăng huyết áp, điều hòa nhịp tim và trung khu thần kinh, giúp khí huyết lưu thông, chống xơ cứng động mạch, tăng cường chuyển hóa trong cơ thể; tăng sinh tân dịch, thanh nhiệt ở tâm.

Xem thêm chi tiết và đặt mua sản phẩm Thăng Áp tại đây.

Bùi Việt Thắng (tổng hợp)


Bài viết mới



Bài viết cũ

Chat hỗ trợ
Chat ngay