Chỉ xác là vị thuốc được dùng phổ biến từ lâu đời trong y học cổ truyền. Ngày nay, chỉ xác được dùng để bào chế sản phẩm Thăng Áp.
Vị thuốc chỉ xác
Chỉ xác hay còn gọi là nô lệ, thương xác, đổng đình; tên khoa học là Fructus citri Aurantii thuộc họ Cam – Rutaceae.

Chỉ xác được bào chế từ chi thuộc họ cam
Chỉ xác là quả bánh tẻ của cây cam (hái lúc gần chín), ngoài ra nguồn dược liệu còn được lấy từ các cây thuộc chi Citrus. Chỉ là tên cây, xác tức còn cả vỏ và xơ vì do quả được bổ đôi phơi khô nên làm ruột quả bị quắt lại.
Chỉ xác gồm các quả bổ đôi, đường kính 2-3cm (hoặc bổ tư). Vỏ ngoài có màu nâu vàng, có vết tích của cuống quả hoặc vết tích của vòi nhụy. Mặt cắt ngang có một vòng vỏ quả ngoài mỏng màu nâu, sắt vỏ có một vòng túi tinh dầu lỗ chỗ, lớp cùi trắng ngà, dày khoảng tử 3-4mm quăn ra phía ngoài, giữa là ruột màu nâu nhạt, có các múi hình tía nan hoa bánh xe, khô xốp có lỏi cứng.
Những quả được dùng làm chỉ xác hái về, bổ đôi theo chiều ngang, để nguyên ruột và hạt, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ 40-50oC (không phơi nắng to hoặc sấy ở nhiệt độ cao vì làm giảm phẩm chất của dược liệu). Dược liệu đã chế biến là những nửa quả, to nhỏ không đều, có vỏ ngoài dày và nhăn nheo, màu lục đen hoặc nâu sẫm, ở giữa là các múi nhỏ xếp theo hình nan hoa, nhăn nhúm màu đen tím, có lẫn hạt, chất cứng rắn, khó bẻ gẫy, mùi thơm nhẹ.
Khi dùng, khoét bỏ ruột và hạt, rửa sạch, ngâm nước ủ mềm, thái lát rồi phơi hoặc sấy khô để dùng sống. Nếu dùng dạng sao thì bào chế theo cách sau: Cho cám gạo vào nồi với tỷ lệ cứ 100g cám cho 1kg dược liệu, rang cám nóng đến khi có khói bốc lên thì đổ chỉ thực, chỉ xác đã thái lát vào, đảo đều đến khi dược liệu có màu vàng nhạt là được. Lấy ra, sàng bỏ cám.
Theo Y học cổ truyền, chỉ xác có vị đắng, cay chua, mùi thơm, tính mát hơi lạnh, vào hai kinh tỳ và vị; có tác dụng có tác dụng phá khí, tiêu tích, hóa đờm, giảm đau, lợi tiểu. Chỉ xác có thể được dùng với lượng 6-12g một ngày, dưới dạng thuốc sắc hoặc tán bột uống.

Chi xác sau khi đã được bào chế
Còn theo y học hiện đại thì thành phần hoá học trong chỉ xác gồm có: Tinh dầu, α-Pinene, Limonene, Camphene, Terpinene, p-Cymene, Caryophyllene, flavonoid (Hesperidin, Neohesperidin, Naringin), pectin, saponin, alcaloid, acid hữu cơ. Thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu.
Bài thuốc hay có sử dụng chỉ xác
Chữa kém tiểu, bụng đầy trướng, khó tiêu: Chỉ xác, rễ xuyên tiêu, nhục quế, nghệ rừng (lượng bằng nhau), phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, mỗi ngày uống 16g với nước gừng, chia làm hai lần trước bữa ăn.
Chữa táo bón: Chỉ thực hoặc chỉ xác 20g, bồ kết 20g bỏ hạt. Hai vị phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện với mật làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Chữa đau tức, đầy hơi, ăn không được: Chỉ xác 25g, táo mèo 25g, củ sả 25g, vỏ vối 25g, vỏ quýt 25g, củ gấu 40g, gừng tươi 20g, phèn phi 10g. Tất cả phơi khô, sao giòn, tán bột mịn. Người lớn: Mỗi lần uống hai thìa cà phê; trẻ em tùy tuổi: 1/2-1 thìa cà phê. Ngày hai lần, uống với nước ấm.

Chỉ xác dược liệu
Trị vùng xương sườn đau nhức vì sợ quá mà tổn thương tới khí: Dùng chỉ xác (sao) 40g, đào chi (sống) 20g, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước sắc gừng và táo.
Trị thương hàn âm chứng, do uống thuốc lầm hạ quá sớm sinh đầy tức ngực nhưng không đau, đè vào thấy mềm: Chỉ xác, binh lang 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 12g với nước sắc hoàng liên.
Trị tiêu ra máu: Chỉ xác 240g sao với cám, hoàng kỳ 240g, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước cơm, hoặc trộn với hồ làm viên uống.
Trị đau bụng khi có thai: Chỉ xác 120g, sao với cám, hoàng cầm 40g tán bột. Mỗi lần uống 20g với 1 chén rưỡi nước, nếu có phù bụng thêm bạch truật 40g.
Trị bụng đầy, người lớn cũng như trẻ nhỏ, khí huyết ngưng trệ: Chỉ xác 160g chia làm 4 phần, sao riêng từng phần với thương truật, la bặc tử, hồi hương, can tất, xong bỏ các vị ấy đi, lấy hỉ xác, tán bột dùng. Lấy 4 vị trước sắc nước trộn bột gạo làm thuốc viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm, sau khi ăn.
Thăng áp
Thăng Áp được bào chế từ các thành phần thảo dược như: Nhân sâm (bột), a giao, mạch môn, cam thảo, trần bì, ngũ vị tử, sinh địa, chỉ xác, hoàng kỳ, quế, đại hồi.

Thăng Áp
Thăng Áp dùng cho người huyết áp thấp; có tác dụng làm tăng huyết áp, điều hòa nhịp tim và trung khu thần kinh, giúp khí huyết lưu thông, chống xơ cứng động mạch, tăng cường chuyển hóa trong cơ thể, tăng sinh tân dịch, thanh nhiệt ở tâm.
Xem thêm chi tiết và đặt mua sản phẩm Thăng Áp tại đây.
Bùi Việt Thắng (tổng hợp)


